Hôm nay ngày 18/12/2017, 6:03:24 PM GMT+7
Tìm kiếm | Đăng nhập

Chào Mừng Các Bạn Đến Với Cổng Thông Tin Sở Giáo dục và Đào tạo Hậu Giang

THÔNG TIN GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
-
+

Thông tin về các hoạt động, kết quả và chỉ đạo/điều hành tiêu biểu của ngành Giáo dục trong quý II/2017(18/07/2017 07:07:09 GMT+7)
Thông tin về các hoạt động, kết quả và chỉ đạo/điều hành tiêu biểu của ngành Giáo dục trong quý II/2017

THÔNG TIN TRONG SỐ NÀY

  1. Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi
  2. Thông tư 22 tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong đánh giá học sinh
  3. Giáo dục STEM - phương thức giáo dục tiên tiến giúp người học gắn lý thuyết với thực tế cuộc sống
  4. Tình hình đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông
  5. Kết quả kỳ thi THPT quốc gia năm 2017 và công tác chuẩn bị xét tuyển vào đại học, cao đẳng
  6. Thực hiện tự chủ đại học
  7. Các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giảm tỷ lệ sinh viên thất nghiệp
  8. Hội nhập quốc tế trong giáo dục đào tạo

 

Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi

Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi (PCGDMNTNT) được chính thức đưa vào Luật Giáo dục năm 2009. Ngày 09/02/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 239/QĐ-TTg phê duyệt Đề án PCGDMNTNT giai đoạn 2010-2015. Mục tiêucủa Đề án là: “Bảo đảm hầu hết trẻ em năm tuổi ở mọi vùng miền được đến lớp để thực hiện chăm sóc, giáo dục 2 buổi/ngày, đủ một năm học, nhằm chuẩn bị tốt về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ, tiếng Việt và tâm lý sẵn sàng đi học, bảo đảm chất lượng để trẻ em vào lớp 1”.

Sau hơn 6 năm triển khai, Đề án đã được các cấp chính quyền địa phương và nhân dân đồng tình ủng hộ, các tổ chức quốc tế quan tâm hỗ trợ để thực sự đi vào cuộc sống, có tác động sâu sắc, toàn diện đến sự phát triển của giáo dục mầm non. Tính đến hết tháng 4/2017, 63/63 tỉnh, thành phố trong cả nước đã được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi.

Quá trình thực hiện phổ cập đã tạo nền tảng cơ bản cho việc nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ; tạo cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước ban hành được các quy chuẩn về trường lớp, cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên; phát triển mạng lưới trường lớp, cơ sở vật chất theo hướng chuẩn, phù hợp với điều kiện vùng miền, mỗi xã phường đều có một trường mầm non để đáp ứng nhu cầu chăm sóc, giáo dục trẻ. Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý phát triển về số lượng và chất lượng về căn bản đáp ứng yêu cầu chăm sóc giáo dục trẻ.Trẻ được chăm sóc, giáo dục 2 buổi/ngày theo chương trình giáo dục mầm non.

Bên cạnh những thành tựu đạt được, giáo dục mầm non vẫn còn gặp nhiều khó khăn như trẻ lứa tuổi nhà trẻ được chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non đạt thấp; còn tồn tại khoảng cách giữa các vùng, miền về giáo dục mầm non, đặc biệt là vùng núi cao, vùng Đồng bằng sông Cửu Long…

Để duy trì và phát triển kết quả PCGDMNTNT, trong thời gian tới, ngành Giáo dục sẽ triển khai rà soát quy hoạch mạng lưới trường lớp theo hướng chuẩn, hiệu quả, phù hợp với điều kiện của địa phương đáp ứng nhu cầu chăm sóc giáo dục trẻ. Chú trọng phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và những người tham gia làm công tác PCGDMNTNT cả về số lượng và chất lượng. Thúc đẩy thực hiện các giải pháp về tài chính, tăng cường nguồn lực đầu tư, đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục mầm non. Đồng thời, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, tranh thủ các nguồn đầu tư, tài trợ từ các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước để phát triển giáo dục mầm non.

Nhằm tạo điều kiện cho trẻ 5 tuổi vùng khó khăn được đi học, tại cuộc họp Chính phủ tháng 5/2017, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đã đề xuất Thủ tướng Chính phủ miễn học phí đối với giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi ở các vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn ngày từ năm học 2018 chứ không phải tới năm học 2019 như kế hoạch trước đó. Chính phủ đã đồng ý thông qua chính sách này. Như vậy là từ năm học 2018, giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi ở các vùng khó khăn sẽ được miễn học phí chứ không chỉ các dân tộc thiểu số như trước đây.

Thông tư 22 tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong đánh giá học sinh

Thông tư 22 ra đời dựa trên nền tảng Thông tư 30 do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, nhưng có nhiều điểm điều chỉnh, bổ sung. Đến nay, sau gần một năm học thực hiện, Thông tư 22 đã nhận được sự phản hồi tích cực từ đội ngũ nhà giáo cũng như các bậc phụ huynh. 

Ý kiến từ giáo viên, cán bộ quản lý các trường tiểu học đều thể hiện sự đồng thuận và đánh giá Thông tư 22 có nhiều ưu điểm, đã khắc phục được những bất cập trong Thông tư 30. Việc đổi mới đánh giá học sinh tiểu học đã dần đi vào ổn định, tạo thuận lợi cho giáo viên, đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học.

Về đánh giá định kì, tại thời điểm giữa và cuối mỗi học kì, căn cứ vào kết quả đánh giá thường xuyên, giáo viên tổng hợp đánh giá thường xuyên (lượng hóa) thành các mức: "Hoàn thành tốt", "Hoàn thành", "Chưa hoàn thành" đối với từng môn học và hoạt động giáo dục và "Tốt", "Đạt", "Cần cố gắng" đối với từng năng lực, phẩm chất, đã giúp cho giáo viên, phụ huynh học sinh nắm bắt được tình hình học tập, rèn luyện của con em họ đang ở mức nào để từ đó có biện pháp giúp đỡ phù hợp với từng đối tượng học sinh.

Đề bài kiểm tra định kì gồm các câu hỏi, bài tập được điều chỉnh, thiết kế theo 4 mức thay vì 3 mức như trước đây đã góp phần đánh giá mức độ nhận thức của học sinh được chính xác và tường minh hơn.

Bước đầu cha mẹ học sinh đã thể hiện nhiều hơn sự quan tâm và tham gia nhận xét về quá trình học tập và rèn luyện của con em mình qua việc xuất hiện nhiều hơn số lần trao đổi với giáo viên về tình hình học tập của các em ở trường và ở nhà.

Về hồ sơ đánh giá, Thông tư 22 quy định hồ sơ đánh giá học sinh chỉ còn 2 loại: Bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục của lớp và Học bạ, thay vì có 5 loại như Thông tư 30 đã giúp cho giáo viên có nhiều thời gian quan tâm, giúp đỡ học sinh trong quá trình học tập và rèn luyện.

Về khen thưởng học sinh vào cuối năm học, việc quy định rõ các tiêu chí khen thưởng học sinh đã tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên, nhà trường trong quá trình thực hiện.

Đến nay, báo cáo của các Sở Giáo dục và Đào tạo cho thấy việc đổi mới đánh giá học sinh tiểu học đã dần đi vào ổn định, đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục tiểu học và góp phần đảm bảo chất lượng giáo dục tiểu học.

Trong thời gian tới, Bộ sẽ tổ chức sơ kết một năm học thực hiện Thông tư 22 để lắng nghe ý kiến từ địa phương. Tất cả các ý kiến thu được sẽ được nghiên cứu, xem xét để từ đó trong trường hợp cần thiết Bộ sẽ có những chỉ đạo cụ thể nhằm phát huy ưu điểm, khắc phục bất cập (nếu có), để việc đánh giá học sinh tiểu học đi vào nền nếp và ổn định.

Giáo dục STEM - phương thức giáo dục tiên tiến giúp người học gắn lý thuyết với thực tế cuộc sống

Giáo dục STEM là phương thức giáo dục tích hợp Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học, giúp người học gắn lý thuyết với thực tế cuộc sống. STEM được đánh giá sẽ là mô hình giáo dục diện rộng trong tương lai gần của thế giới. Tại Việt Nam, giáo dục STEM đang được Bộ Giáo dục và Đào tạo thí điểm đưa vào giảng dạy ở một số trường phổ thông, bước đầu đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Đây là một trong những việc chuẩn bị để thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới mà Bộ đang xây dựng.

Từ năm học 2014-2015, phương thức giáo dục STEM đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa vào các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học và từ đó đến nay tiếp tục chỉ đạo các địa phương tích hợp giáo dục STEM trong việc thực hiện chương trình phổ thông hiện hành ở những môn có liên quan, đồng thời triển khai thí điểm giáo dục STEM tại một số trường lựa chọn.

Cho đến nay, phương thức giáo dục STEM đã được triển khai thí điểm tại 14 trường trung học thuộc 5 tỉnh, thành phố: Hà Nội (8 trường); Nam Định (1 trường); Quảng Ninh (1 trường); Hải Phòng (1 trường) và Hải Dương (3 trường), bước đầu đem lại những kết quả tích cực.

Cán bộ quản lý, giáo viên đã có nhận thức đúng về tầm quan trọng của giáo dục STEM đối với việc hình thành các năng lực và phẩm chất của học sinh theo mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Từ đó đã bước đầu nắm bắt và xây dựng được một số chủ đề giáo dục STEM để tổ chức cho học sinh thực hiện. Cụ thể đã có trên 50 chủ đề học tập đã được triển khai ở các nhà trường tham gia thí điểm.

Trong quá trình thực hiện các bài học theo chủ đề giáo dục STEM, học sinh đã chủ động, tích cực đề xuất và thực hiện các sản phẩm học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Rất nhiều các sản phẩm của các em đã được dự thi và đạt giải cao ở các cuộc thi: Khoa học kỹ thuật, Vận dụng kiến thức liên môn vào giải quyết tình huống thực tiễn; Sáng kiến giáo dục STEM - SchoolLAB dành cho học sinh trung học.

Ngoài ra, việc huy động cộng đồng tham gia vào việc tổ chức thực hiện các chủ đề giáo dục STEM đã được các nhà trường thực hiện có hiệu quả, bước đầu cho thấy các dự án STEM xuất phát từ các vấn đề có liên quan đến cuộc sống của cộng đồng dân cư nơi các em sinh sống có sức thu hút mạnh mẽ đối với cộng đồng, doanh nghiệp. 

Thời gian tới, phương thức giáo dục STEM sẽ được đánh giá một cách khoa học, khách quan, rút ra những bài học kinh nghiệm, đồng thời nhìn nhận rõ những khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn thí điểm để đề ra phương hướng nhiệm vụ cụ thể phù hợp với mỗi địa phương, cơ sở giáo dục, cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh. Đồng thời, tăng cường những điều kiện đảm bảo và cơ chế, chính sách phù hợp để triển khai giáo dục STEM trong trường phổ thông đạt hiệu quả thiết thực.

Tình hình đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông

Ngày 12/4/2017, dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ GD&ĐT để xin ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân. Hầu hết các ý kiến đều nhất trí về cơ bản nội dung dự thảo và cho rằng dự thảo chương trình tổng thể đã quán triệt các quan điểm, tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT nêu tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ, thể hiện quyết tâm đổi mới ngành Giáo dục.

Việc xây dựng chương trình tổng thể làm căn cứ để xây dựng các chương trình môn học và hoạt động giáo dục đã thể hiện quan điểm tiếp cận hệ thống trong xây dựng chương trình giáo dục phổ thông mới. Quy trình, cách thức tổ chức xây dựng chương trình và đặc biệt là cách lấy ý kiến đóng góp đã thể hiện rõ tính công khai, minh bạch, dân chủ, thực sự cầu thị, sẵn sàng đối thoại trực tiếp, thông tin đầy đủ và kịp thời để giải tỏa những bức xúc của dư luận.

Ban Phát triển chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã chỉnh sửa, hoàn thiện dự thảo chương trình tổng thể trên cơ sở tiếp thu đầy đủ, nghiêm túc ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, nhà giáo và các tầng lớp nhân dân. Hiện nay, dự thảo đang được Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình tổng thể tiến hành thẩm định theo các quy định hiện hành.

Với quan điểm đồng bộ, đồng tốc và hiệu quả, xác định các điều kiện đảm bảo chất lượng phải đi trước một bước, thời gian qua, các đơn vị chức năng của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tích cực triển khai các nhiệm vụ chuyên môn nhằm đảm bảo các điều kiện khi chương trình mới đi vào thực hiện, cụ thể:

Về chuẩn bị đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục: Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo thực hiện rà soát các chuẩn giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục để chỉnh sửa, bổ sung các chuẩn theo hướng tiếp cận về phẩm chất và năng lực của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, đáp ứng yêu cầu thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa mới.

Đồng thời, hoàn thành quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đổi mới giáo dục phổ thông, trong đó vừa bồi dưỡng giáo viên có các năng lực thực hiện nhiệm vụ, vừa tổ chức đào tạo mới, đào tạo lại với những giáo viên dạy liên môn hoặc các môn học mới.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang chỉ đạo thực hiện quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng sư phạm một cách hợp lý; đảm bảo cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các địa phương với các trường khu vực, các trường sư phạm trọng điểm; tổ chức thực hiện tốt quy hoạch các cơ sở bồi dưỡng nhà giáo phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn tới.

Trên cơ sở dự báo về nhu cầu giáo viên và căn cứ vào chương trình giáo dục phổ thông mới, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo cân đối chỉ tiêu tuyển sinh theo hướng tăng chỉ tiêu đào tạo các loại hình giáo viên còn thiếu, đảm bảo đủ giáo viên cho các môn học: ngoại ngữ, âm nhạc, mĩ thuật, thể dục, nghệ thuật, công nghệ, tin học, giáo dục quốc phòng, giáo dục công dân,… tạo sự cân đối trong cơ cấu đội ngũ giáo viên các cấp bậc học.

Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông lần này có sự kế thừa rất nhiều ưu điểm từ chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, trong đó đặc biệt là kế thừa các hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo, nhà trường gắn với thực tiễn sản xuất kinh doanh, giáo dục STEM,… chính vì thế, đội ngũ giáo viên tiếp cận được nhanh với lần đổi mới này.

Về chuẩn bị cơ sở vật chất: Quan điểm của Bộ Giáo dục và Đào tạo là tận dụng triệt để cơ sở vật chất hiện có trong quá trình triển khai chương trình mới. Vì vậy, tới đây các nhà trường cần sắp xếp và tổ chức lại việc khai thác và sử dụng thiết bị học tập sao cho phù hợp với các môn học, chỉ bổ sung các thiết bị dạy học còn thiếu và sắp xếp lại cho phù hợp với các môn học.

Các địa phương đã tiến hành đánh giá thực trạng và nhu cầu đầu tư cơ sở vật chất trường, lớp học và xây dựng danh mục các phòng học cần kiên cố hóa sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2017 - 2020. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương khảo sát thiết bị dạy học ở tất cả các trường, trên cơ sở đó, xác định những trọng tâm ưu tiên đầu tư trong thời gian tới theo lộ trình đổi mới chương trình và sách giáo khoa.

 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã trình Thủ tướng Chính phủ Đề án đảm bảo cơ sở vật chất cho chương trình giáo dục phổ thông nhằm hỗ trợ các địa phương, nhất là các tỉnh có điều kiện kinh tế khó khăn, các tỉnh miền núi, vùng dân tộc thiểu số.

Để đảm bảo các điều kiện để thực hiện thành công chương trình mới, vai trò của các địa phương là hết sức quan trọng. Thời gian qua, các địa phương đã vào cuộc tích cực cùng ngành Giáo dục chuẩn bị các điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất phục vụ đổi mới. Mặc dù còn nhiều khó khăn về nguồn lực đầu tư, song các địa phương đã có những tính toán và bước đi cụ thể để đảm bảo các điều kiện đáp ứng yêu cầu của quá trình đổi mới. Tới đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ tiếp tục hướng dẫn cụ thể các địa phương chuẩn bị đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất cần thiết để triển khai chương trình giáo dục phổ thông, sách giáo khoa mới.

Kết quả kỳ thi THPT quốc gia năm 2017 và công tác chuẩn bị xét tuyển vào đại học, cao đẳng

Trong các ngày 22, 23, 24/6, Kỳ thi THPT quốc gia năm 2017 đã được tổ chức tại 63 tỉnh, thành phố trong cả nước. Kỳ thi đã để lại ấn tượng mạnh cho xã hội bởi sự nhẹ nhàng, nghiêm túc, an toàn và tiết kiệm. Đặc biệt thể hiện rõ dấu ấn đổi mới tích cực, đúng hướng của ngành Giáo dục.

Khác với kỳ thi những năm trước đó, năm nay, mỗi tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức một cụm thi duy nhất, không phân biệt cụm thi cho thí sinh dự thi để xét tốt nghiệp THPT và cụm thi để xét tuyển vào đại học, cao đẳng. Thí sinh được thi để lấy kết quả xét tuyển vào ĐH, CĐ ngay tại trường THPT thí sinh học.

Đây là lần đầu tiên các sở chủ trì, chịu trách nhiệm chính trong tất cả các khâu tổ chức kỳ thi với hai mục đích. Để hỗ trợ cho địa phương, Bộ GD&ĐT điều động cán bộ, giảng viên các đại học, học viện, trường ĐH và các trường cao đẳng nhóm ngành đào tạo giáo viên về các địa phương tham gia tổ chức kỳ thi.

Có 4/5 môn thi, bài thi được tổ chức thi theo hình thức trắc nghiệm khách quan, riêng môn Ngữ văn thi theo hình thức tự luận. Lần đầu tiên có các bài thi tổ hợp gồm các môn thi thành phần và cũng là lần đầu tiên, môn Giáo dục công dân được đưa vào Kỳ thi. Điều này giúp cho tỷ lệ thí sinh đăng ký dự thi các môn Khoa học xã hội tăng cao, chiếm hơn 50%, trong đó môn Lịch sử có trên 58% thí sinh lựa chọn (những năm trước tỷ lệ này là khoảng 15%)

Năm nay, mỗi thí sinh trong phòng thi có một mã đề thi riêng. Đây là phương thức hiệu quả để ngăn chặn tình trạng quay cóp và các gian lận, tiêu cực khác trong phòng thi. Tổ chức thi theo phương thức này còn đặt ra yêu cầu học sinh học đều chương trình, tránh học tủ, học lệch góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáo dục toàn diện trong nhà trường phổ thông.

Theo phương thức tổ chức thi mới, thí sinh có thể thi nhiều môn hơn nhưng thời gian rút ngắn hơn trước. Trước đây, Kỳ thi được tổ chức trong 4 ngày, nay rút xuống còn 2,5 ngày. Lịch thi các bài thi, thời gian làm bài giữa các môn thi thành phần được sắp xếp tối ưu để thí sinh có thể làm bài với tinh thần thoải mái nhất.

Năm nay thí sinh được đăng ký xét tuyển ĐH cùng lúc với đăng ký dự thi với số nguyện vọng không giới hạn. Các quy định này nhằm tạo điều kiện cho thí sinh phát huy tối đa năng lực sở trường.

Với những thay đổi quan trọng và với một kỳ thi nghiêm túc, kết quả thi THPT quốc gia năm 2017 đã thể hiện sự phân hóa rõ rệt về điểm số. Dạng phổ điểm của tất cả các bài thi, môn thi gần với phân phối chuẩn, điều này chứng tỏ các đề thi đánh giá sát với chuẩn đầu ra chương trình lớp 12 của các môn học, phân loại, phân hóa rõ ràng, sát thực năng lực của thí sinh, tạo điều kiện thuận lợi trong công tác xét tuyển vào các trường đại học trong năm 2017.

Phổ điểm môn Vật lý

Điểm trung bình của các môn thi, bài thi từ khoảng 4,5 - 6,5 điểm, giá trị của điểm trung bình gần sát với điểm trung vị đã chứng minh tính chuẩn hóa của các đề thi trong kỳ thi THPTQG năm 2017. Điểm trung bình dưới 5 chiếm tỉ lệ khoảng từ 40 - 60%. Điều này cho thấy phổ điểm được phân tán tương đối rộng, đánh giá đúng năng lực của các thí sinh, giảm thiểu đáng kể hiện tượng đoán mò trong các bài thi trắc nghiệm khách quan.

Năm 2017, số lượng điểm 10 ở các môn thi, bài thi nhiều hơn những năm trước đó, lý do là bản chất của đề thi tự luận và trắc nghiệm khách quan chuẩn hóa hoàn toàn khác nhau. Đề thi chuẩn hóa với mỗi mức độ khó - dễ đều có câu hỏi ở tất cả chương trong chương trình học chứ không chỉ ở một chương nào. Do đó, thí sinh học đều chương trình thì nếu đề không trúng câu khó ở chương này sẽ trúng câu khó ở chương khác và đều làm được. Trong khi đó đề tự luận chỉ có một câu hỏi khó và chỉ ở nội dung nhất định, thí sinh nào “trúng tủ" vào sẽ làm được điểm cao. Điều này cho thấy, lợi thế của đề thi trắc nghiệm khách quan chuẩn hóa là khuyến khích học sinh học đều toàn bộ chương trình, không học tủ.

Sau khi công bố điểm thi, Hội đồng xác định ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào năm 2017 (điểm sàn) của Bộ đã họp, thảo luận và thống nhất đề xuất Bộ trưởng Bộ GD&ĐT mức điểm sàn cho tất cả các khối thi là 15,5 điểm (cao hơn năm 2016 0,5 điểm). Năm nay số thí sinh đăng ký sử dụng kết quả để xét tuyển ĐH là 640.425 thí sinh, trong đó tổng chỉ tiêu đại học xét tuyển bằng kết quả thi THPT quốc gia là 332.496 thí sinh.

Với mức điểm sàn đã được được công bố, hầu hết các trường đại học đều cho rằng, năm 2017, công tác xét tuyển đại học sẽ dễ dàng hơn những năm trước đó.

Kỳ thi THPT quốc gia năm 2017 được tổ chức thành công khẳng định đổi mới thi, tuyển sinh đã đi đúng hướng, những mục tiêu đổi mới thi, tuyển sinh cơ bản đã đạt được. Phương án tổ chức kỳ thi THPT quốc gia năm 2017 sẽ được giữ ổn địnhcho những năm sắp tới.

Thực hiện tự chủ đại học

Hơn 10 năm thực hiện tự chủ đại học theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ, đặc biệt từ khi Luật Giáo dục đại học có hiệu lực và gần 02 năm thí điểm tự chủ đại học theo Nghị quyết số 77/NQ-CP của Chính phủ cho thấy chất lượng giáo dục đại học có nhiều chuyển biến tích cực; công tác đảm bảo chất lượng đào tạo được chú trọng, năng lực tự chủ và trách nhiệm giải trình trước xã hội của các trường đã được nâng lên.

Hiện nay, có 18 trường đại học được giao quyền tự chủ. Các trường tự chủ đã chủ động, linh hoạt hơn vềnghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, tài chính tổ chức bộ máy, tuyển dụng nhân sự và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, từng bước chủ động đổi mới cơ chế để hoạt động ngày càng hiệu quả. Mô hình thí điểm tự chủ bước đầu được đánh giá là thành công và được xã hội chấp nhận.

Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đạt được, trong quá trình triển khai còn nhiều vướng mắc, nhất là về mặt nhận thức; sự bất cập và chưa phù hợp của một số quy định pháp lý, cơ chế, chính sách và cả những bất cập trong tổ chức thực hiện. Công tác tự chủ đại học trong giai đoạn hiện nay vẫn chưa có những chuyển biến mang tính hệ thống và đột phá; việc thực hiện tự chủ chưa thực sự tác động mạnh mẽ đến hệ thống giáo dục đại học.

Để nâng cao chất lượng đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với đẩy mạnh giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang tiếp tục đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các cơ sở giáo dục đại học; rà soát các luật, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan để đề xuất các nội dung sửa đổi cho phù hợp, thống nhất và tạo điều kiện cho các cơ sở giáo dục đại học thực hiện tự chủ hiệu quả.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã trình Chính phủ đề nghị Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục đại học để tăng quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học và đã được Quốc hội thông qua. Hiện nay, BộGiáo dục và Đào tạo đang trình Chính phủNghị định quy định về cơ chế tự chủ của cơ sở giáo dục đại học công lập.

Đồng thời, đẩy mạnh kiểm định chất lượng giáo dục đại học, triển khai xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học, tăng cường minh bạch thông tin về điều kiện đảm bảo chất lượng và chất lượng giáo dục đại học để thúc đẩy thực hiện tự chủ đại học công bằng trong toàn hệ thống; hướng dẫn, tập huấn bồi dưỡng kiến thức quản trị nhà trường cho Hội đồng trường của các cơ sở giáo dục đại học; hỗ trợ cơ sở giáo dục đại học trong công tác đảm bảo chất lượng và thực hiện tự chủ đại học.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng đề án tự chủ đại học và chỉ đạo các cơ sở giáo dục đại học rà soát, kiện toàn Hội đồng trường, chức năng nhiệm vụ của Hội đồng trưởng để Hội đồng trường thực sự có quyền lực và quản trị đại học hiệu quả; đảm bảo 100% cơ sở giáo dục đại học phải kiện toàn Hội đồng trường trước khi thực hiện quyền tự chủ.Tăng cường thanh tra, kiểm tra gắn với trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị được giao quyền tự chủ trong việc thực hiện các nội dung tự chủ, quy chế dân chủ và công khai minh bạch thông tin; tổng kết kinh nghiệm thực tiễn triển khai tự chủ để điều chỉnh, chỉ đạo kịp thời.

Bên cạnh đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương và các cơ quan thông tấn, báo chí tăng cường truyền thông về tự chủ đại học và trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục đại học trong toàn xã hội để hiểu, thống nhất áp dụng.

Các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giảm tỷ lệ sinh viên thất nghiệp 

Theo thống kê của Bản tin thị trường lao động Việt Nam (do Bộ LĐTB&XH và Tổng cục Thống kê khảo sát), quý 1/2017, cả nước có 1.101.700 người trong độ tuổi lao động thất nghiệp, giảm 8.300 người so với quý trước đó, tuy nhiên vẫn tăng 29.500 người so với quý cùng kỳ năm 2016. Đáng chú ý, số người thất nghiệp có trình độ đại học trở lên là 138.800 người, giảm 80.000 người so với quý 4/2016 (218.800 người). Theo đó, tỷ lệ thất nghiệp của nhóm này là 2,79%, giảm mạnh so với mức 4,43% của quý trước đó.

Đây là tín hiệu đáng mừng vì số việc làm đã được tạo ra nhiều hơn để tăng cơ hội, tỷ lệ có việc làm cho người lao động, nhất là lao động đã qua đào tạo. Tuy nhiên, đẻ giảm thiểu hơn nữa số lao động có trình độ đại học trở lên thất nghiệp cần những giải pháp tổng thể trong thời gian tới, trong đó quan trọng nhất là vai trò của  nền kinh tế để tạo ra nhiều việc làm hơn nữa cho người lao động.

Về phía ngành giáo dục, Bộ GD&ĐT đã và đang triển khai các nhiệm vụ lớn đối với giáo dục đại học như quy hoạch mạng lưới, trong đó, định hướng giảm đầu mối, sáp nhập, giải thể các cơ sở đào tạo kém hiệu quả, tập trung đầu tư phát triển các cơ sở giáo dục đại học hoạt động có chất lượng và hiệu quả; xây dựng kế hoạch tổng thể phát triển giáo dục đại học, chỉnh sửa luật giáo dục đại học; khảo sát và công bố tỷ lệ sinh viên có việc làm, hỗ trợ khởi nghiệp cho sinh viên; thực hiện tự chủ đại học để tạo sự cạnh tranh trong việc phát huy nội lực và sự sáng tạo của tất cả các trường… để nâng cao chất lượng đào tạo.

Về phía các cơ sở giáo dục đại học, các trường đang tập trung thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo như phát triển đội ngũ giảng viên, tăng cường cơ sở vật chất, tăng cường kết nối doanh nghiệp, phát triển chương trình đào tạo, kiểm soát chất lượng đầu vào, chất lượng quá trình đào tạo và chất lượng đầu ra… trong đó, đặc biệt nhấn mạnh công tác kiểm định chất lượng giáo dục theo các tiêu chuẩn kiểm định tiệm cận với tiêu chuẩn khu vực ASEAN; khảo sát, công bố và nâng cao tỷ lệ có việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp.

Một thông tin vui là mới đây đã có 04 trường đại học của Việt Nam bao gồm: Trường ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Xây dựng, ĐH Bách khoa Đà Nẵng và ĐH Bách khoa TP. HCM được Hội đồng cấp cao đánh giá nghiên cứu và giáo dục đại học (HCERES) của Pháp kết luận đạt chuẩn kiểm định trường đại học với hiệu lực 5 năm. Đây là lần đầu tiên các trường ĐH của Việt Nam được kiểm định bởi một tổ chức kiểm định quốc tế.

Việc 4 trường đại học đạt kiểm định chất lượng quốc tế sẽ thúc đẩy các trường đại học của Việt Nam thấy được tầm quan trọng cũng như mạnh dạn hơn trong việc kiểm định chất lượng theo các tiêu chuẩn quốc tế, coi đây là điều kiện tiên quyết để nâng cao chất lượng giáo dục đại học cũng như vị thế của giáo dục đại học Việt Nam trong khu vực và thế giới.

Theo quy chế tuyển sinh, kể từ năm 2018, các trường phải công bố tỷ lệ sinh viên chính quy có việc làm sau 12 tháng kể từ khi tốt nghiệp của 2 khóa gần nhất so với năm tuyển sinh (theo nhóm ngành). Những trường khảo sát không trung thực hoặc không công khai tỷ lệ việc làm của sinh viên tốt nghiệp theo quy định sẽ không được thông báo tuyển sinh.

Hy vọng rằng, với các giải pháp quyết liệt như trên, tỷ lệ thất nghiệp của nhóm lao động có trình độ đại học trở lên sẽ tiếp tục giảm trong thời gian tới.

Hội nhập quốc tế trong giáo dục đào tạo

* Nga và Việt Nam thúc đẩy hợp tác giáo dục đi vào chiều sâu

Ngày 28/6, trong khuôn khổ chuyến thăm cấp cao của Chủ tịch nước Trần Đại Quang tới Liên bang Nga, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ đã có cuộc làm việc với bà Olga Yurevna Vasylieva, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Khoa học Liên bang Nga. Tại đây, hai Bộ trưởng đã có những trao đổi nhằm thúc đẩy hợp tác giáo dục Việt Nam - Nga đi vào chiều sâu.

Để hợp tác giáo dục giữa hai nước Việt Nam - Liên bang Nga đạt hiệu quả cao hơn và đi vào thực chất hơn, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đề xuất với phía Nga chương trình hợp tác thời gian tới trên một số lĩnh vực như đào tạo và nghiên cứu khoa học cơ bản; đào tạo các ngành y tế, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học trong các trường đại học thông qua nghị định thư giữa Việt Nam và Liên bang Nga.

Ngoài ra, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ cũng đề nghị phía Nga quan tâm hơn nữa tới việc đẩy mạnh dạy tiếng Nga tại Việt Nam và ASEAN, đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các sinh viên Việt Nam đang theo học tại Liên bang Nga.

Bà Olga đánh giá cao những đề xuất của Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ về chương trình hợp tác giữa hai bộ, đồng thời khẳng định sẽ phối hợp với phía Việt Nam để nâng cao chất lượng đào tạo. Phía Nga cũng cam kết sẽ tiếp tục giữ nguyên lộ trình tăng số lượng học bổng cấp cho phía Việt Nam, dự kiến đến năm 2018 sẽ tăng lên 953 suất, tức là hơn 93 suất so với năm 2017. 

* Đối thoại chính sách chiến lược và kế hoạch tổng thể giáo dục đại học Việt Nam

Ngày 16/6, tại Bộ GD&ĐT, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đã có buổi đối thoại chính sách chiến lược và kế hoạch tổng thể giáo dục đại học với một số chuyên gia đến từ Hàn Quốc và Ngân hàng thế giới.

Trao đổi tại buổi đối thoại, GS Giáo sư Ju-ho Lee, nguyên Bộ trưởng Giáo dục, Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc đã chia sẻ những kinh nghiệm trong quá trình tái cấu trúc hệ thống các trường đại học và các điều kiện tiên quyết để giáo dục đại học Hàn Quốc có diện mạo như ngày nay.

Câu chuyện về việc Hàn Quốc đã giải quyết cuộc “khủng hoảng” thừa trường đại học, sinh viên, giảng viên vào những năm 80 của thế kỷ trước cũng được GS Barh, nguyên Bộ trưởng Tài chính Hàn Quốc chia sẻ tại cuộc đối thoại như một kinh nghiệm quý báu cho quá trình cải cách giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay.

Giám đốc Ngân hàng thế giới tại Việt Nam Ousmane Dione đánh giá cao những ý tưởng cũng như những việc Việt Nam đang làm nhằm cải tổ giáo dục đại học và cho rằng, đây là tín hiệu tốt để Việt Nam có thể cho thế giới biết những gì đã làm được và cần những gì để đi xa hơn nữa, trong đó cơ bản là làm thế nào để cải cách được giáo dục đại học và nghề nghiệp tại Việt Nam, đây sẽ là cuộc cách mạng mà Việt Nam rất cần phải có để tránh  tụt hậu xa hơn nữa.

Tại buổi đối thoại, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ cho biết, Việt Nam rất quan tâm tới quá trình tái cấu trúc hệ thống giáo dục đại học, tuy nhiên có rất nhiều khó khăn, áp lực. Việt Nam không có những điều kiện thuận lợi như Hàn Quốc, hầu hết các trường đại học còn nghèo, đặc biệt về cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, các giảng viên phải làm việc trong điều kiện nghèo nàn, các trường chỉ trông chờ vào học phí của sinh viên, các doanh nghiệp Việt Nam cũng nhỏ bé nên nhu cầu tuyển dụng sinh viên ra trường còn thấp, dẫn tới những khó khăn trong giải quyết việc làm cho sinh viên.

Ngoài ra, hạn chế về quản trị đại học, chính sách liên kết với doanh nghiệp trong đào tạo và đầu ra cho sinh viên, kỹ năng của sinh viên sau khi ra trường cũng là những vấn đề được cần được khắc phục. Bộ trưởng mong rằng, trong thời gian tới, Việt Nam sẽ tiếp tục nhận được sự quan tâm trao đổi, hỗ trợ tích cực từ các chuyên gia để từng bước xây dựng được những chính sách chiến lược và kế hoạch tổng thể cho giáo dục đại học.

* Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ làm việc với các trưởng cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài nhiệm kỳ 2017-2020

Tại buổi làm việc, Bộ trưởng cho rằng, hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo không chỉ dừng lại ở việc có bao nhiêu suất học bổng, quản lý học sinh, sinh viên học tập ở nước ngoài ra sao mà mấu chốt là hội nhập về tư duy giáo dục.

Từ đó, Bộ trưởng mong muốn, các trưởng cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài sẽ hỗ trợ để chia sẻ những tư duy giáo dục, những xu hướng của giáo dục các nước. Cụ thể là cung cấp những thông tin về nhu cầu giáo dục đào tạo của các nước, những kinh nghiệm hay trong cải cách, đổi mới giáo dục của thế giới, từ quản lý vĩ mô tới từng bậc học như phổ thông, đại học có thể áp dụng tại Việt Nam.

Với mong muốn, mỗi đại sứ quán Việt Nam sẽ là cánh tay nối dài của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng đề nghị, các đồng chí trưởng cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài sẽ chủ động hơn nữa trong việc thúc đẩy ký kết các thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, mở ra những cơ hội hợp tác thuận lợi để nâng cao chất lượng nền giáo dục nước nhà.

Bộ trưởng cũng nhấn mạnh tới vai trò kết nối của các đại sứ quán Việt Nam tại nước ngoài với các trí thức Việt kiều nhằm thực hiện chính sách thu hút người Việt Nam ở nước ngoài có trình độ cao về nước giảng dạy và công tác; vai trò thẩm định chất lượng cũng như kết nối trong việc thu hút các cơ sở giáo dục nước ngoài hợp tác đầu tư tại Việt Nam.

* Góc nhìn giáo dục quốc tế

- Thi đại học ở Trung Quốc “khó nhất thế giới”: Trong hai ngày đầu tháng 6 hàng năm, cả Trung Quốc như ngừng lại khi học sinh cuối cấp trung học bước vào kỳ thi gaokao quan trọng nhất trong cuộc đời. Gaokao là sự kiện quốc gia, ngang tầm với ngày nghỉ lễ, tuy nhiên ít vui vẻ hơn nhiều. Các công trình xây dựng gần điểm thi phải tạm hoãn thi công, giao thông cũng được chuyển hướng để tránh làm phiền thí sinh. Xe cứu thương túc trực bên ngoài phòng trường hợp thí sinh suy sụp do căng thẳng thần kinh, cảnh sát đi tuần tra để giữ cho đường phố yên tĩnh. Trước cổng trường, dưới cái nắng gay gắt mùa hè, phụ huynh chen chúc, xô đẩy để tìm chỗ đứng ngay trước hàng rào sắt, cố nhìn vào bên trong và đợi con mình bước ra. Ôtô đỗ kín khắp các con đường dẫn đến cổng trường. Sĩ quan cảnh sát thành phố kiên nhẫn giải thích với người đi đường vật lộn tìm không gian trống. Đó là cảnh tượng quen thuộc hàng năm trong mùa thi gaokao ở Trung Quốc. Gaokao là biểu tượng của hệ thống giáo dục Trung Quốc. Tuy nhiên, kỳ thi bị chỉ trích vì gây áp lực lớn lên trẻ em. Một số lượng lớn gia đình khá giả ở Trung Quốc chọn cách cho con đi du học, một phần vì không hài lòng với kỳ thi này.

- Giáo viên Singapo không dành nhiều thời gian đứng lớp: Tại Singapore, các giáo viên đặt ra những mục tiêu về việc học sinh của họ sẽ học hỏi được những gì. Và nếu học sinh của họ không đạt được những mục tiêu đó, họ sẽ chỉnh sửa lại phương pháp giảng dạy. Cách tiếp cận này đã biến giáo viên thành những nhà nghiên cứu đánh giá dữ kiện thông tin và thay đổi phương pháp tiếp cận cho phù hợp với thực tiễn. Theo đó, các giáo viên dùng bốn câu hỏi để tùy chỉnh công việc của họ: 1 - Chúng tôi muốn học sinh của mình học được những gì? 2 - Chúng tôi sẽ muốn các em học điều đó như thế nào? 3 - Chúng tôi sẽ giải quyết ra sao khi học sinh không học được chúng? 4 - Chúng tôi sẽ làm gì khi học sinh đã biết điều đó rồi? Cũng tại Singapo, một nhóm ưu tú gồm các “giáo viên bậc thầy” sẽ có trách nhiệm hỗ trợ những giáo viên khác trong trường nâng cao chuyên môn. Những người thuộc nhóm này sẽ đào tạo những cố vấn và những chuyên gia khác trong hệ thống giáo dục. Rồi những người được đào tạo này sẽ lại giúp các giáo viên mới hơn phát triển năng lực. Hệ thống giáo dục của Singapore thể hiện rất rõ ràng rằng cách để nâng cao chất lượng các ngôi trường chính là nâng cao chất lượng giảng dạy.

 

 

 

Tin khác

Lịch công tác

Owl Image Quản lý Văn bản
Owl Image Văn bản Bộ GD và ĐT
Owl Image @moet.edu.vn
Owl Image @haugiang.edu.vn
Owl Image
Hướng dẫn thi THPT
QG và TS ĐHCĐ

Thông báo

Văn bản mới

Owl Image Hệ thống QLGD
Owl Image PCGD - CMC
Owl Image Họp trực tuyến
Owl Image Trường học kết nối

Liên kết website

Owl Image Trường TC Luật Vị Thanh
Flag Counter