Hôm nay ngày 26/05/2017, 2:20:39 PM GMT+7
Tìm kiếm | Đăng nhập

Chào Mừng Các Bạn Đến Với Cổng Thông Tin Sở Giáo dục và Đào tạo Hậu Giang

ĐẶC TRƯNG PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ QUA TẬP TRUYỆN HƯƠNG RỪNG CÀ MAU CỦA SƠN NAM
-
+

ĐẶC TRƯNG PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ QUA TẬP TRUYỆN HƯƠNG RỪNG CÀ MAU CỦA SƠN NAM(13/04/2017 09:04:25 GMT+7)
Văn của Sơn Nam thường là những câu ngắn gọn, trong sáng, rõ ý. Đôi khi ông đưa vào truyện những câu ca dao, những câu hò đối đáp Nam Bộ, những câu nói thường gặp trong đời sống thực, nhờ vậy mà văn phong ông đậm chất Nam Bộ. “Hương rừng Cà Mau” của ông là một tập truyện gồm nhiều truyện có thể ví như bức tranh nông thôn sống động với những nét chấm phá đơn giản nhưng đã phản ánh được tính chân xác của thực tại dưới cái nhìn của nhà văn gắn liền với nông thôn Nam Bộ.

Viết “Hương rừng Cà Mau”, Sơn Nam đã làm sống lại quá khứ miền Nam, không chỉ hiện nay mà cả vài trăm năm về trước, chuyện khẩn hoang miền Nam, chuyện Gia Long bôn tẩu, chuyện đấu tranh thời thực dân giữa ta và Tây; chuyện dòng tộc, gia đình, chuyện thành thị lẫn chuyện nông thôn, chuyện tranh chấp đặc quyền giữa nhiều gia đình, cá nhân, chuyện khẩn đất, chuyện làng báo, chuyện buôn bán, chuyện sinh hoạt, chuyện giải trí; các loại hình ca cổ, hò hát, đối đáp, huê tình, chuyện quan hệ yêu đương, tình cảm gia đình, quan hệ xã hội...

 

Đọc “Hương Rừng Cà Mau”, người đọc được tiếp xúc với những người Nam Bộ đủ thành phần, hạng người, nghề nghiệp: giàu sang có, nghèo hèn có, công chức có, trí thức có, địa chủ có và thương gia cũng có và đặc biệt là người nông dân gắn liền với việc mưu sinh trên đồng ruộng, mảnh vườn, đìa cá, vuông tôm, rừng tràm của họ. Tác giả còn cho chúng ta biết được những ngành nghề gắn với nông thôn Nam Bộ mang tính đặc thù như nghề: thương hồ, trị rắn cắn, bắt cá sấu, bẫy chim, ăn ong, khai thác lông chim, đánh bắt cá, len trâu, làm rẫy... Tất cả những điều đã nói được thể hiện qua ngôn ngữ của tác giả để diễn tả nét đặc trưng của phương ngữ Nam Bộ, làm nổi bật bức tranh nông thôn Nam Bộ với muôn màu sắc vốn có của nó, qua các đặc điểm:

1. Đặc tả một vùng đất

Mối quan hệ cộng sinh giữa: Cá, Muỗi, con người; cọp, khỉ và cây rừng. Đó là sự hòa hợp cuộc sống của những con người tứ xứ đến U Minh lập nghiệp. Qua ngôn ngữ miêu tả của Sơn Nam, chúng ta thấy được sự trù phú của những sản vật nơi rừng U Minh.

Do đặc thù của vùng sông nước nên sinh hoạt đi lại của con người nơi đó cũng mang tính đặc thù của một vùng đất: Di chuyển bằng ghe xuồng. Đặc biệt là cách bơi xuồng vượt địa hình hiểm nghèo của người dân Nam Bộ, mà người vùng khác không thể có được. Một cách bơi mà người bơi ngồi trước mũi, bơi phía mặt vài dầm, rồi trở lẹ qua bên trái, bơi vài dầm. Gặp nước cạn, thì đứng mà chống hoặc quỳ lên sạp xuồng, ngã mình tới lấy trớn.

Đến với vùng đất Long Xuyên, trong mùa nước nổi, người sống đã vất vả, nhưng người chết thì lại càng khốn khổ hơn. Giữa lúc biển trời mênh mông nước, ông bà ta xưa kia phải “chôn” người chết một cách thương tâm. Có hai cách: Một là xốc cây tréo giữa đồng rồi treo lên mặt nước, chờ khi nước giựt mới đem chôn lại dưới đất. Hai là bó xác lại mà dằn cây dằn đá mà neo dưới đáy nước. Xưa kia ông cha ta phải trả giá quá đắt cho việc khai khẩn đất hoang của mình.

2. Kinh nghiệm sống

Tranh chấp đời thường là một điều khó tránh khỏi của cuộc sống thường nhật. Đó có thể là tranh chấp ranh đất của hai hộ gần nhau. Đây là một tranh chấp lẽ ra không nên có của những người trong cuộc, nhất là những gia đình sống gần nhau. Bởi vì chỉ vài tất đất giáp ranh mà họ phải bỏ công ăn việc làm nhiều năm để kiện tụng nhau, mỗi bên đều có mướn thầy kiện riêng; để rồi kẻ thắng thì rêu rao rằng sắp vật heo ăn mừng, kêu gánh hát bội về làng, hát thí cho đám tá điền coi chơi; người thua thì thù hằn, oán than, tìm cách trả thù. Qua đó, Sơn Nam muốn nhắn nhủ chúng ta một kinh nghiệm sống ở đời, hãy “mua láng giềng gần” mà sống. Những tranh chấp này cần phải tránh để khỏi mất tình nghĩa láng giềng với nhau trong cuộc sống.

Quan hệ đời thường của những người Nam Bộ cũng được Sơn Nam khái quát một cách dí dỏm bằng chuyện “Bốn cái ngu”, nhưng rất thâm trầm, nó như một kinh nghiệm sống của con người. Trong cuộc sống “thương người như thể thương thân”, đó là đạo lý ở đời. Người đang gặp khó; - trong khả năng giúp đỡ của mình mà không giúp thì lỗi đạo làm người. Nhưng giúp đỡ “thiên hạ” rồi cũng có bao phiền lụy cho mình. Đây là những quan hệ rất đời thường, rất gần gũi với người nông dân Nam Bộ. “Bốn cái ngu” - làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu; là bài học kinh nghiệm sống với những kẻ nhàn du nơi thôn quê Nam Bộ.

3. Ngành nghề đặc trưng ở nông thôn Nam Bộ

Bất cứ nơi đâu ở nông thôn Việt Nam, “làm ruộng” là một nghề chính. Nhưng “Ruộng lò bom” để gieo loại lúa “Xom Mà Ca” là một kiểu làm ruộng rất đặc thù ở nông thôn Nam Bộ qua cách miêu tả của Sơn Nam.

Đánh bắt cá cũng là một trong những nghề kiếm sống của người dân nơi đây: Giăng câu, thả lưới, đặt lợp, lờ.... Họ như am hiểu tường tận “đường đi nước bước” của cá, biết được đặc điểm ăn mồi, cư trú, di chuyển, đẻ trứng.... của cá mà có cách bắt phù hợp. Họ biết được, vào mùa mưa, cá thường ăn mồi khi nước lớn. Giữa mùa cá ăn mồi lúc trạng vạng, lúc trăng sửa soạn mọc. Hừng sáng, chừng mây đam ngang cá trở lại ăn lần chót. Con rạch nào lắm ghe xuồng lại, cá ở sát bờ. Rạch nào im lặng, cá lội ngay giữa dòng. Trước khi giăng cá trê, phải quậy cho nước đục. Mỗi chổ cá chỉ ăn một lần. Vì nó lưu động nên khéo dời chỗ cắm câu cho hiệu quả.

4. Phong tục tập quán - nét sinh hoạt văn hóa gắn liền với nông thôn Nam Bộ

Ở Nam Bộ, người Khmer chiếm số lượng không nhỏ trong dân số. Sinh hoạt tinh thần của họ cũng phong phú, nổi bật lên là phong tục “Đua ghe ngo”. Mỗi khi có dịp lễ lớn, họ (người Khmer) tổ chức đua (ghe ngo) với không khí hào hứng, thú vị. Đến với “Chiếc ghe ngo”, chúng ta hiểu được vai trò, ý nghĩa của chiếc ghe ngo gắn liền với văn hóa, phong tục tập quán của đồng bào người Khmer ở Nam Bộ. Đồng thời biết được phương thức vận hành của nó, phải được tập dợt rất kĩ trước khi thi đấu, với những nghi lễ rất thiêng liêng trong không khí náo nhiệt.

Điệu hò, câu hát cũng xua đi bao mệt nhọc trong lao động, qua điệu hò đã thể hiện được những giao tình của trai thanh nữ tú. Tiếng hò có thể vang xa trong đêm thanh vắng, mênh mông mới có thể tìm được lời đồng vọng. Tiếng hò đã đáp ứng được nhu cầu tâm sự, là một nếp văn hóa rất đặc thù của người dân nông thôn Nam Bộ.

Sau buổi lao động mệt nhọc, thói quen của người nông dân là quây quần bên mâm rượu. Rượu là người bạn, rượu giải bày những tâm sự chất chứa trong lòng của người dân tứ chiếng. Bài vọng cổ giúp họ vơi đi bao phiền muộn trong cuộc sống, xua đi bao lo toan cơm áo hằng ngày.

Qua “Hương rừng Cà Mau” chúng ta hiểu được những đặc điểm tự nhiên, xã hội của vùng đất Nam Bộ mà lâu nay đôi lúc chưa có điều kiện tìm hiểu. Con người Nam Bộ trong tác phẩm của ông là những con người sinh động, có hành động và tính cách rất đặc trưng, có kiểu ăn nói gắn liền với nông thôn rất “nông dân”. Sơn Nam đã góp phần vào kho tàng văn chương Việt Nam một bản sắc riêng cần phải được đón nhận với lòng trân trọng.

  Nguyễn Phú Cường, Phó Chánh Thanh tra Sở GD&ĐT

Tin khác

Lịch công tác

Owl Image Quản lý Văn bản
Owl Image Văn bản Bộ GD và ĐT
Owl Image @moet.edu.vn
Owl Image @haugiang.edu.vn
Owl Image
Hướng dẫn thi THPT
QG và TS ĐHCĐ

Thông báo

Văn bản mới

Owl Image Hệ thống QLGD
Owl Image PCGD - CMC
Owl Image Họp trực tuyến
Owl Image Trường học kết nối

Liên kết website

Owl Image Trường TC Luật Vị Thanh
Flag Counter